Thứ Hai, 27/07/2015, 09:19 [GMT+7]

Những đồng đội hi sinh cho chúng tôi được sống

(Congannghean.vn)-Trong quãng đời hai mươi năm cầm súng chiến đấu của tôi, từ tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến làm lính tình nguyện trên đất bạn Campuchia, tôi có rất nhiều kỷ niệm thiêng liêng, sâu nặng nghĩa tình đồng đội. Tôi xin kể một kỷ niệm của những năm tháng ấy mà suốt đời, tôi sẽ chẳng bao giờ quên được.

Câu chuyện diễn ra vào một ngày đầu xuân năm 1969. Trung đoàn 812 của chúng tôi đã cùng với quân và dân Trị Thiên giáng cho kẻ địch một đòn nặng nề, làm chúng  “thất điên bát đảo”. Ta đã tiến công nổi dậy trên khắp chiến trường, làm chủ thành phố Huế 26 ngày đêm. Sau chiến thắng vang dội đó, địch cay cú nên đã phản kích quyết liệt. Chúng tìm mọi cách cắt đứt nguồn hậu cần của ta từ đồng bằng lên, đồng thời đánh phá ác liệt nhằm ngăn chặn tiếp tế từ miền Bắc vào. Chúng thẳng tay đàn áp đẫm máu nhiều cơ sở cách mạng. Các đơn vị chủ lực đứng trước thời điểm vô cùng khó khăn. Địch dùng phi pháo đánh phá dữ dội, liên tục gây nhiều thiệt hại cho ta. Vũ khí, thuốc men ngày càng cạn kiệt, thiếu thốn. Bữa ăn của bộ đội từ năm lạng gạo một ngày xuống còn ba lạng, rồi một lạng... Cuối cùng gạo cũng hết, thương binh không có cháo ăn; bộ đội phải sống bằng rau, măng rừng...

Trước tình thế đó, quân khu đã cho phép Trung đoàn rút ra Bắc để củng cố lực lượng rồi quay vào tiếp tục chiến đấu. Để bảo toàn lực lượng cho đơn vị, đại đội công binh có lệnh để lại một trung đội để chốt chặn địch. Khi ấy đại đội chỉ còn 27 người. “Gom” các bộ phận lại được 11 đồng chí còn sức chiến đấu do Trung đội trưởng Thái Hữu Song quê ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh chỉ huy. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải chiến đấu đến cùng, dù hy sinh tất cả cũng phải chặn đứng quân địch để Trung đoàn rút quân an toàn.

Suốt ba ngày đêm chiến đấu ròng rã, vũ khí trong tay chỉ có 6 quả mìn định hướng, 11 quả lựu đạn, một khẩu súng B40, 10 khẩu AK với 2 cơ số đạn, chúng tôi phải nhịn đói, nhịn khát nhưng đã ngoan cường “bẻ gãy” nhiều đợt tấn công của địch, giữ vững trận địa.

Những chiến sỹ giải phóng quân luôn sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì đồng đội - Ảnh tư liệu
Những chiến sỹ giải phóng quân luôn sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì đồng đội - Ảnh tư liệu

Tuy nhiên, vì lực lượng của địch rất mạnh, có phi pháo yểm trợ tối đa nên đến chiều tối ngày thứ 3, các đồng chí trong Trung đội đã anh dũng hy sinh gần hết, chỉ còn lại tôi và Trung đội trưởng Song. Tôi bị thương nhẹ ở mắt cá chân và ở đầu. Anh Song đã bị thương mấy lần nhưng vẫn bình tĩnh chiến đấu và chỉ huy trận địa. Lần bị thương cuối cùng, anh bị vết thương rất nặng do mảnh cối 81 găm vào ngực, vào bụng, mất nhiều máu. Vết thương ở bụng chảy ra một chất nước xanh lè làm tôi vô cùng hoảng hốt.

Mãi sau này tôi mới biết là do bị đói nhiều ngày, không có cơm, phải ăn rau nên khi bị thương, trong bụng chỉ có nước rau màu xanh lè mà thôi. Tôi cởi áo rồi dùng một chiếc bát B52 úp lên phần ruột bị lòi ra từ vết thương rồi băng bó cho anh. Anh Song nắm chặt tay tôi, đôi mắt nhìn tôi như thôi miên. Đôi mắt ấy chan chứa bao yêu thương như đôi mắt của một người mẹ, nhưng vẫn ánh lên những tia sáng cháy rực của sự cương nghị. Anh nói đứt quãng nhưng kiên quyết:

- Tài ơi, em phải sống… về báo cáo… Trung đội đã hoàn thành… nhiệm vụ.

Thế rồi, bàn tay anh tuột khỏi tay tôi. Anh đã trút hơi thở cuối cùng trên quả đồi không tên phía Tây Nam điểm cao 367 Quảng Trị vào một ngày đầu xuân. Tôi ôm chầm lấy anh, thảng thốt, nghẹn ngào. Máu của anh trào ra, thấm vào ngực tôi nóng hổi… Tôi như người mất hồn, nước mắt giàn giụa.

Bỗng tiếng súng của địch vang lên làm tôi bừng tỉnh.

Trong tay chỉ còn 2 quả lựu đạn và vài chục viên đạn AK. Tôi tự nhủ, không biết mình phải làm sao đây. Rồi những lời căn dặn và ánh mắt lần cuối của anh Song đã tiếp cho tôi sức mạnh. Tôi lấy hết bình tĩnh, tự nhủ mình phải sống, phải chiến đấu.

Màn đêm buông xuống, tôi tiếp tục cầm cự, chiến đấu với địch, diệt thêm vài tên nữa cho đến khi hết đạn.

Bọn địch ào lên hò hét:

- Phải bắt sống Việt cộng!

Chúng đã tiến đến rất gần. Tôi chợt lóe lên ý nghĩ mình phải giả chết, chính đồng đội sẽ che chở cho mình. Tôi nằm sát dưới xác anh Song và anh Lợi, nín thở như đã chết…
Bọn địch tràn lên:

- Việt cộng, Việt cộng chết hết rồi!

Thằng chỉ huy hét lên:

- Kiểm tra xem thằng nào còn sống không!

Rồi chúng dùng lưỡi lê đâm vào từng đồng đội của tôi. Tôi đau đớn đến nghẹt thở. Bọn địch lại giết đồng đội tôi thêm một lần nữa. Một ý nghĩ lại loé lên: “Hay là mình vùng dậy, lao vào bóp chết một vài thằng rồi cùng chết với đồng đội”. Nhưng nhớ lời dặn dò của anh Song trước lúc ra đi, tôi trấn tĩnh lại, nằm im chờ đợi. Bước chân của chúng đến càng gần, một thằng đã đi sát bên tôi, chắc là hắn sắp đâm lê xuống. Nhưng thật lạ lùng, hắn đột nhiên quay lại và đi thẳng, dường như là nhờ có sự phù hộ, che chở của thánh thần. Tôi không lý giải được.

Khi chúng đi rồi, tôi vẫn chưa hết hồi hộp. Tôi thận trọng từ từ ngồi dậy.

Dưới ánh trăng thượng tuần, 10 đồng chí thân yêu của tôi, mỗi người một tư thế, nằm như đang ngủ, tôi đau xót vô cùng. Tôi âm thầm dùng 2 bàn tay còn đẫm máu bới các hố pháo và những căn hầm bị sập. Sợ địch phát hiện, tôi không dám dùng xẻng. Tôi lặng lẽ chôn cất các anh, dùng dao găm khắc tên tuổi của từng người trên dây lưng, bi đông đựng nước. Tất cả còn rất trẻ, có 9 người 17, 18 tuổi, cùng tuổi với tôi. Duy chỉ có anh Song là người nhiều tuổi hơn, nhưng cũng chỉ mới 20.

Sau khi chôn cất đồng đội, đến 2 giờ sáng, tôi mới vượt qua vòng vây của kẻ thù. Qua biết bao gian khổ, cái đói, cái chết rình rập, 15 ngày đêm một mình giữa rừng sâu, trong tay chỉ còn một khẩu súng AK hết đạn, tôi đã sống sót trở về, tìm được đơn vị. Đó là cả một câu chuyện dài, đầy li kì mà tôi chưa thể lý giải được vì sao lại vượt qua được. Tôi chỉ biết rằng, chính các đồng đội thân yêu đã phù hộ, che chở, tiếp cho tôi sức mạnh để tôi sống được đến ngày hôm nay. Ân nghĩa ấy, tôi biết sẽ chẳng bao giờ có thể trả được!

.

Nguyễn Văn Tài