Tiêu đề chính của bài viết
Đây là đoạn mô tả ngắn hoặc lời dẫn mở đầu cho nội dung.
07:09, 02/09/2013
![]() |
| Nhà văn Lê Văn Thảo (bên trái) và nhà văn Anh Đức (tác giả tiểu thuyết “Hòn đất”) trong những năm tháng ở chiến khu miền Đông. |
Báo Điện tử Chính phủ xin giới thiệu bài viết của Nhà văn Lê Văn Thảo, nguyên Chủ tịch Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, nguyên Phó Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam khóa VII (2005-2010) về những ngày ông cùng các đồng đội sống, chiến đấu và sáng tác trong khu rừng miền Đông Nam Bộ, chờ ngày thống nhất đất nước:
Ngay sau ngày thành lập “Mặt trận Dân tộc Giải phóng” năm 1960, Hội văn nghệ Giải phóng được thành lập, Chủ tịch là nghệ sĩ sân khấu tài danh Trần Hữu Trang, Tổng thư ký là nhà văn Lý Văn Sâm. Tạp chí Văn nghệ Giải phóng ra đời cùng lúc đó, tên là “văn nghệ” nhưng chỉ đăng tải văn thơ là chính, giống như Văn hóa Cứu quốc hồi chống Pháp.
Những năm đó tôi phần nào đã hiểu, và sau này càng hiểu sâu sắc hơn, tại sao ngày đó chúng tôi coi ngày 2/9 là quan trọng, thiêng liêng đến vậy. Bác Hồ đã đọc Tuyên ngôn độc lập, nhưng rồi suốt ba mươi năm vẫn bom rơi đạn nổ, “quyền được sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc” nào có được bao nhiêu. Chúng tôi đi kháng chiến là để làm nốt điều đó. Phải có hòa bình, thống nhất đất nước, không thể ở dưới hầm bí mật “xây dựng đất nước giàu mạnh” được.
Cơ quan chúng tôi đóng bên bờ suối Xa Mách phía Bắc tỉnh Tây Ninh, giáp biên giới Campuchia. Đó là tên trong bản đồ, còn tên chúng tôi gọi với nhau là Suối Cây, do có thân cây lớn ngã ngang làm chiếc cầu tự nhiên, các con đường tập trung qua lại ở đó. Những số Văn nghệ Giải phóng đầu tiên ra đời bên bờ con suối đó, in “quai guốc”, kiểu in thô sơ kéo bằng tay. Các bài thơ “Quê hương” của Giang Nam, “Mồ anh hoa nở” của Thanh Hải đăng từ những số đầu tiên in “quai guốc” ấy.
Chúng tôi in “quai guốc” được một thời gian, sau đó chuyển sang in typô, như mọi tờ tạp chí ngày nay. Số đầu tiên in typô là số ngày 2/9 năm 1963, anh em cầm tờ tạp chí sang trọng mà rơi nước mắt.
Những năm đó cơ quan còn ít người, bom đạn chưa nhiều, rừng còn hoang sơ, chúng tôi cất nhà dọc bên bờ suối. Chỉ có thiếu ăn, bị bệnh sốt rét, còn thì cảnh sống vô cùng an nhàn, thơ mộng. Anh Nguyễn Văn Bổng và anh Giang Nam thay nhau phụ trách biên tập. Các cây viết nổi tiếng khi đó liên tục đến với Tạp chí Văn nghệ Giải phóng. Các anh Lê Anh Xuân, Từ Sơn, Hồng Tân ở miền Bắc về tới, các anh Trang Thế Hy, Thủy Thủ, Phan Lạc Tuyên từ trong Sài Gòn ra. Thế hệ tiếp theo là các anh Nguyễn Quang Sáng, Đinh Quang Nhã, Diệp Minh Tuyền từ miền Bắc vào, anh Chim Trắng từ Bến Tre lên. Lực lượng có thể nói là hùng hậu.
Công việc không có gì nhiều, phần lớn thời gian là đào giếng, chặt củi, đào công sự, giao thông hào, đi tải gạo. Thêm nữa là đi bắt cá, làm bẫy bắt thú. Từng người có công việc sáng tác của riêng mình, thơ, truyện ngắn in một ít ở tờ Văn nghệ Giải phóng còn lại gửi hết ra miền Bắc để tham dự mục “Đọc truyện đêm khuya” của Đài Tiếng nói Việt Nam.
Ngay từ những số Văn nghệ Giải phóng đầu tiên, các anh trong ban biên tập đã có cái nhìn thoáng, không chỉ đăng sáng tác các tác giả trong chiến khu, còn đăng cả sáng tác các nhà văn Sài Gòn. Tôi nhớ trong những số đầu tiên đã đăng truyện ngắn “Cửa hiệu bán văn chương” của Lê Tất Điều, trích từ tạp chí Văn ở Sài Gòn. Và sau này là truyện “Con thú tật nguyền” của Ngụy Ngữ. Tôi đã đọc và ngưỡng mộ truyện của anh Ngụy Ngữ từ đó. Văn học là của nhiều người, và được nhìn từ nhiều phía. Cần phải lục soạn lại nhiều hơn nữa những sáng tác còn thất lạc, văn chương cần phải vun đắp chớ không phải bị đốt bỏ. Lâu lâu thấy một bản nhạc của Phạm Duy được cấp phép, tôi lấy làm mừng. Đất nước có thêm một bài hát.
Tạp chí Văn nghệ Giải phóng chỉ in số lượng 500, vài ba tháng ra một số. Nhưng là nơi chúng tôi gắn bó, có công việc làm, thấy chữ nghĩa được in, bạn bè đọc sáng tác của nhau nhắn tin thăm hỏi…
Hòa bình tới nay đã 38 năm. Người Việt Nam bất kể giàu nghèo hoàn cảnh nào, đi đâu xa ngày Tết cũng bươn bả về, nhưng từ giải phóng đến nay má tôi coi ngày 2/9, ngày 30/4 lớn hơn cả ngày Tết Nguyên đán. Bà nói có những ngày này mọi gia đình trên đất nước ta mới được đoàn tụ.
Thường là như vậy, hạnh phúc qua mau, gian khổ đọng lại. Chính những gian khổ hiểm nguy mới sinh ra những kỳ tích cần phải ghi chép lại.

