Tiêu đề chính của bài viết

Đây là đoạn mô tả ngắn hoặc lời dẫn mở đầu cho nội dung.

08:09, 30/09/2013

Ngôi nhà nhỏ của ông Nguyễn Trọng Đổng ở xóm 6, xã Thanh Tường, huyện Thanh Chương trở thành điểm đến của những người yêu dân ca ví giặm. Ở tuổi 83, thời gian đã lấy đi vẻ nhanh nhẹn của người thầy, người cán bộ văn hóa năm nào, nhưng vẫn còn đó cái đằm thắm mà thời gian không bao giờ có thể lấy đi được. Đó là tình yêu với những làn điệu dân ca ví giặm.
 
Tốt nghiệp trường sư phạm, đang là hiệu trưởng của trường tiểu học, nhưng dấu ấn tác phẩm "Rừng - Biển thắm tình" ra đời và đạt giải Nhất Hội diễn nghệ thuật quần chúng tỉnh Nghệ An năm 1965 đã đưa ông sang một lối rẽ khác, ông được điều về làm cán bộ Phòng Văn hóa huyện Thanh Chương.
 
Từ lòng đam mê cùng với tài hoa trời phú, từ năm 1966 đến nay, ông đã sáng tác được 125 ca khúc dân ca ví giặm, 1 tập ca trù, 1 tập hát xẩm và nhiều tác phẩm kịch hát dân ca; trong đó, nhiều tác phẩm đoạt Huy chương Vàng hội diễn nghệ thuật quần chúng toàn quốc như: Sức kéo, Phần rơm đầu mùa, Tình chị duyên em, Một chứng từ, Chuyện sau quầy hàng, Hào khí Điện Biên, Nghĩa tình đồng đội...
 
Đa số các tác phẩm của ông đều được dàn dựng, biểu diễn và được Đài PT-TH Nghệ An, Đài Tiếng nói Việt Nam phát sóng. Các sáng tác của ông được rất nhiều nghệ sỹ có tiếng như Hồng Lựu, Tiến Dũng, Hải Yến... hát và ông tự hào vì chính những cái tên như Tiến Dũng, Hồng Lựu, Thu Loan, Phương Liên… đều từng là học trò của ông.
 
Sức sống của các làn điệu dân ca Nghệ Tĩnh được nuôi dưỡng từ tình yêu của những con người như mẹ con ông Đông
 
Ông bảo, tình yêu dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh được nuôi dưỡng từ chính trong gia đình. Ông bà nội là con của thầy đồ nho, vốn giỏi ngâm thơ phú, rồi đến mẹ của ông rất giỏi trong chuyện bẻ vè ca hát, bà mang trong mình cả kho tàng ca dao, tục ngữ... Và ngay từ thời tóc còn để chỏm, đi chăn trâu cắt cỏ ngoài đồng, được nghe chị em đi cấy hát ví, hát giặm... ông đã mê từ lúc nào. Khi đã trót đam mê rồi thì không dễ gì tách ra được, dù đi đâu, làm gì cũng đều bị sự chi phối của nó.
 
Có lần đạp xe từ nhà xuống Trung tâm Văn hóa huyện Thanh Chương (chỉ 3 km) mà hết 1 tiếng rưỡi mới tới nơi… chỉ vì mải mê để ý, quan sát chuyện ngoài đường. Ông cười khúc khích khoe, mình thấy điều này hay quá: Kiểm lâm mà bán xi măng/ Ở bên trạm giống bán xăng, bán dầu/ Hợp tác xã thì có máy khâu mà dùng... Vậy nên, “không chi bằng cái mê, không chi bằng học ngoài đường, học ở chợ, ở trên đò, quán cắt tóc… đi mô mình cũng ghi lại những điều được nghe, được thấy..., cứ ghi lại đó, 3 - 5 năm sau mới dùng”.
 
Còn nhớ, “ngày bé, lúc đang ngồi trong sân, nghe tiếng người ta hát, hỏi mẹ người ta hát chi rứa? Mẹ bảo, họ hát ghẹo đó. Ghẹo là răng, con có thấy họ ghẹo chi mô. Mẹ cười, “ghẹo” như mi hay trêu đùa em gái mi đó. Có lần, cháu của mẹ (chị họ) đến chơi, lúc nớ chị 15 tuổi, sắp lấy chồng mà gia đình bên nhà trai lại con một. Đang rửa đọi, nghe nhà bên vừa trục lúa vừa hát: Em ơi/ ham chi trúc mọc một chồi/ mai sau trúc rũ/ biết đứng ngồi với ai. Chị thả bát, vô nhà mách, o ơi, họ hát ri o nầy... Rứa thì mi lấy của hắn mà trả cho hắn: Anh ơi/ Chớ chê trúc mọc một chồi/ Mai sau trúc tỏa chín mười chồi cũng nên...
 
Có lẽ, cũng chính vì kho tàng ca dao, tục ngữ đã đi vào máu thịt, nên dù đã 104 tuổi, không còn minh mẫn, phải ăn, ở một chỗ nhưng mẹ ông (bà Nguyễn Thị Đồng) vẫn mê những câu hò điệu ví. Cụ mê đến nỗi, chẳng bao giờ cụ để cái miệng mình nghỉ ngơi. Lắm lúc, con cháu thấy cụ hát nhiều quá, ảnh hưởng sức khỏe, phải nói dối: “Đảng giận mẹ rồi, Đảng và Bác Hồ bảo mẹ ngủ đi, không được hát nữa...”. Cụ sợ Đảng buồn, Đảng giận lắm, nên im ngay tức thì.
 
Đặc biệt, những hôm tỉnh táo, hai mẹ con lại bàn luận về câu từ trong ca dao tục ngữ. Cụ vẫn thường đọc câu: Thương em ra đứng đầu cầu/ Tóc xoăn biếng chải/ Gương tàu biếng soi. Lúc hỏi, mần răng lại “gương Tàu”? Cụ trả lời, câu ni hợp với hoàn cảnh ngày xưa, cấy chi cũng dùng của Tàu cả. Hay câu: “Có vàng, vàng chẳng hay phô/ Có con con nói đi Ngô đi Lào”. Mình hỏi lại, “...Có con con nói bi bô cả ngày” mới đúng chứ? Cụ suy nghĩ, rồi à... ừ nhỉ...
 
Dân ca xứ Nghệ có từ bao giờ? Để trả lời câu hỏi đó, ông và những người bạn (nhạc sỹ An Thuyên, Văn Thế) đã từng đi tìm tiếng hát sông Lam (sưu tầm), sau đó một mình ông có nhiều cuộc lặn lội khắp Diễn Châu, Đô Lương, Anh Sơn để sưu tầm những làn điệu dân ca ví giặm… Và rồi, chẳng ai lý giải được, khi sinh ra con người xứ Nghệ thì đã có làn điệu dân ca xứ Nghệ. Từ trong lao động đã đẻ ra những câu hát dân ca, hát cho quên bớt mệt mỏi phiền sầu, hát cho chóng xong công việc, hát để chia sẻ những mặn nồng cùng nhau…; trong chiến tranh, người ta hát để chống giặc, đấu tranh để tồn tại, để được tự do, hạnh phúc.
 
Tuổi đã cao, thế nhưng ngày ngày người dân huyện Thanh Chương vẫn thấy ông miệt mài với cương vị chủ nhiệm CLB Dân ca huyện (với 32 thành viên), tích cực cộng tác cùng ngành giáo dục Thanh Chương đưa dân ca vào trường học. Cũng từ câu lạc bộ của ông mà giờ đây, trên mảnh đất này đã có thêm những cái tên như CLB dân ca Ngọc Sơn, Thanh Lĩnh, Cát Văn... Ông được Bộ trao tặng Huy chương Vì sự nghiệp văn hóa quần chúng (năm1992) và mới đây, kịch bản “Giá đời phải trả” lại đoạt giải Hồ Xuân Hương càng làm nhiều người kính trọng và nể phục.
 
Nghe tin ví giặm xứ Nghệ đang được trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa của nhân loại, ông vui mừng khôn tả. Tự hào khi dân ca Nghệ Tĩnh quê mình không ngừng được phát huy trong cuộc sống, đã được thử nghiệm sân khấu hoá và trở thành “kịch chủng”. Dù cuộc sống đã thay đổi rất nhiều, những tác động của ngoại cảnh đời sống kinh tế - xã hội khá sâu sắc, các môi trường diễn xướng xưa của ví giặm Nghệ Tĩnh không còn, nhưng ông vẫn tỏ rõ một niềm tin sâu sắc về sức sống của di sản tinh thần này.
 
Tôi cũng cảm nhận được niềm tin đó truyền từ niềm đam mê của ông và người mẹ 104 tuổi. Chính những con người sống với dân ca ví giặm như mẹ con ông là một sự khẳng định thuyết phục cho sức sống của ví giặm Nghệ Tĩnh trong cuộc sống hôm nay.

Kiều Thị Nga

Ban Biên tập

In
Chia sẻ Facebook

Các tin khác