08:06, 01/06/2013
Cứ mỗi đợt mưa lớn thì xóm Mỹ Hoà, xã Nghi Mỹ lại chìm trong biển nước. Những cơn lũ đi qua để lại cho người dân nhiều nỗi lo nhưng nước sạch luôn là nỗi trăn trở nhiều năm nay.
Các giếng nước của làng đa phần không có mạch ngầm, chủ yếu nguồn nước lấy từ đồng ruộng nên mỗi khi ngập úng lại kéo theo nguồn nước bẩn ở ngoài vào. Mỹ Hoà là vùng thấp trũng nên hầu như năm nào xóm cũng bị ngập lụt. Hệ thống nước sạch chưa có, nước giếng khoan cũng bị nhiễm mặn, vậy là phải sống chung với lũ đã đành, người dân ở đây còn phải dùng nguồn nước này cho sinh hoạt trong gia đình nhiều năm nay mà không còn sự lựa chọn nào khác.
Những giếng nước bị nhiễm bẩn ở làng Mỹ Hoà - Nghi Mỹ sau lũ lụt đi qua
Không chỉ ở vùng ngập lụt mà ngay tại thị trấn Quán Hành, một địa bàn trung tâm của huyện, vấn đề nước sạch lại nóng bỏng hơn bao giờ hết. Năm 2006, UBND thị trấn đã huy động mỗi hộ gia đình đóng góp 2 triệu đồng để xây dựng hệ thống nước sạch, nếu hộ nào khó khăn thì UBND thị trấn tạo điều kiện vay Ngân hàng Chính sách xã hội huyện.
Chủ trương này đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân nên được sự đồng tình cao. Tiền xây dựng hệ thống nước sạch người dân đã nộp đủ, hệ thống ống dẫn nước cũng đã về tận từng hộ gia đình nhưng oái oăm thay, gần 6 năm nay nước sạch vẫn không thấy đâu và nỗi lo về nguồn nước sạch đang là vấn đề cấp thiết, hàng ngày với người dân.
Ở Nghi Lộc, hàng năm vào mùa nắng nóng, hạn hán diễn ra gay gắt hầu hết 8 xã vùng bán sơn địa, nguồn nước đều bị cạn kiệt, kể cả nước sản xuất và sinh hoạt, hạn hán nặng nhất ở các xã Nghi Văn, Nghi Kiều. Các xã vùng ven sông, ven biển dọc hệ thống sông Cấm như Nghi Thiết, Nghi Quang, Nghi Tiến khả năng xâm thực mặn là rất lớn, nguồn nước bị nhiễm mặn, trong đó có cả nước ngầm.
Đối với vùng ngập lụt như Nghi Mỹ, Nghi Diên, khi lũ lụt xảy ra, nguồn nước thường bị ô nhiễm, nguy cơ phát sinh dịch bệnh rất lớn. Trong thời gian qua, UBND huyện đã có nhiều giải pháp cho vấn đề nước sạch nông thôn. Trung bình mỗi năm, huyện đầu tư 160 triệu đồng cho các hộ nghèo, gia đình chính sách ở các địa phương để làm bể chứa nước nhưng tỷ lệ dân khu vực nông thôn sử dụng nước sạch chưa nhiều.
Tính đến nay toàn huyện mới chỉ có 40% số hộ vùng nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn 02 của Bộ Y tế. Phần lớn dân cư nông thôn hiện nay sử dụng nước sinh hoạt từ công trình cấp nước nhỏ lẻ (giếng khoan, giếng đào), khai thác mạch nước ngầm tầng nông, chất lượng nước không ổn định.
Hiện tại, chưa có địa phương nào trong huyện đạt tiêu chí làm sạch môi trường và cung cấp đủ nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho dân cư. Đây thực sự là một thách thức không nhỏ trong thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới ở Nghi Lộc.
Quang Dũng
