08:07, 22/07/2013

Ông Nguyễn Văn Lợi (SN 1946) sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng ở xã Khai Sơn, huyện Anh Sơn. Lên 5 tuổi, ông Lợi đã phải chịu cảnh mất cha, dù cuộc sống lúc bấy giờ còn nghèo khó trăm bề nhưng mẹ ông vẫn luôn động viên các con ăn học thành tài. Bằng nỗ lực bản thân, ông thi đậu vào Trường ĐHSP Vinh - Nghệ An.
 
Năm 1968, sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Vinh, ông được điều động về dạy học ở một trường THPT của tỉnh Thanh Hóa. Dù không thuộc diện phải ra chiến trường nhưng trước tội ác tày trời của giặc Mỹ, trách nhiệm với đất nước, năm 1971, ông quyết định nhập ngũ. Lúc này, chiến tranh đang ở giai đoạn khốc liệt nhất, miền Bắc, miền Nam đang gánh chịu sự đánh phá kinh khủng của Mỹ - Ngụy và chư hầu. Những tân binh được huấn luyện cấp tốc và hành quân vào chiến trường, Nguyễn Văn Lợi cùng một trung đoàn bổ sung vào chiến trường Quảng Trị. 
 
Sau nhiều trận đánh quyết liệt với kẻ thù, đầu năm 1973, ông bị thương và bị địch bắt trong một cuộc chiến không cân sức. Lúc này, Hiệp định Pari đang được đàm phán nên chúng không giết tù binh mà đưa ông vào Bệnh viện Huế chạy chữa rồi khai thác thông tin. Sau những ngày tra tấn không moi móc được gì, chúng chuyển ông vào Trung tâm thẩm vấn ở Đà Nẵng.
 
Tại đây, Nguyễn Văn Lợi đã đánh lừa địch bằng cách lấy lý do bị thương nặng ở cổ không nói thành lời, tay thì không thể viết được. Chính vì thế, ông bị chúng đẩy vào Trại giam Đà Nẵng.
 
Chưa được bao lâu, tháng 5/1973, ông Lợi bị chuyển về Trại giam Biên Hòa. Suốt thời gian ở trại, ông luôn viện cớ không nói và viết được nên chúng cũng không khai thác được gì. Biết ông Lợi vốn là giáo viên, gan lỳ khi bị tra tấn, trung thành với Tổ quốc, Ban kháng chiến trong nhà tù Biên Hòa giao cho ông viết truyền đơn kêu gọi tù nhân đấu tranh.
 
Dù tuổi đã cao, ông Lợi vẫn tâm huyết với công việc của một cựu chiến binh
 
Giai đoạn này, ông kịp học hỏi những cách thức, phương pháp đấu tranh với địch ngay trong ngục tù. Để tránh sự phát hiện của địch, ông viết bằng tay trái nên khi địch phát hiện có truyền đơn, chúng bắt anh em trong tù so sánh nét chữ không phát hiện được. Sau khi tra tấn mà không khuất phục được, đến tháng 10/1973, Mỹ - Ngụy đưa Nguyễn Văn Lợi và một số đồng chí vào tù đày ở Cần Thơ.
 
Ở trong chốn lao tù Cần Thơ, ông Lợi tiếp tục được Đảng ủy Trại giam Cần Thơ do các chiến sỹ cách mạng lập nên giao trọng trách viết các bài viết tuyên truyền, tố cáo tội ác của kẻ thù và kêu gọi dân vận, soạn diễn văn kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, đồng thời, ông được bầu làm Trưởng ban Văn hóa. Với ý chí, sự khéo léo, ông biến trại giam của địch thành trường học cách mạng.
 
Để làm được điều này, công việc của ông là tìm những người có trình độ dạy cho họ, những người được ông giảng dạy lại về từng khu nhà giam truyền đạt lại. Những phương án đấu tranh với địch học được ở Trại giam Biên Hòa cũng được ông áp dụng ở Cần Thơ. Chính vì được động viên khích lệ, học được những kinh nghiệm chống tra tấn, chống nô dịch, đòi hỏi quyền lợi chính đáng của người tù nên người chiến sỹ cách mạng trong nhà tù Cần Thơ luôn giữ được khí tiết. Mỗi khi có người bị địch tra tấn dã man, tất cả tù nhân đều lên tiếng đả đảo tội ác Mỹ - Ngụy, rồi hát những bài hát cách mạng, nhịn ăn để chống đối, không lao động công ích… nên những tên cai tù khét tiếng cũng phải chùn bước.
 
Ngày 30/4/1975, khi nghe tin Sài Gòn giải phóng, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, các tù nhân vùng dậy, phá vỡ nhà tù Cần Thơ, khống chế bọn giám thị, tự giải phóng, lấy vũ khí địch tự trang bị cho mình để chiến đấu, phối hợp với quân và dân tiến vào thành phố Cần Thơ ngăn chặn không để bọn tàn địch, bọn phiến loạn cướp bóc tài sản, kêu gọi Ngụy quyền mang vũ khí, tài liệu nạp cho chính quyền cách mạng…
 
Khi ông đang chiến đấu trong các nhà tù thì đồng đội tưởng ông đã hy sinh nên làm lễ truy điệu và gửi giấy báo tử về gia đình. Do tỷ lệ thương tật tới 61% nên ông được xuất ngũ về quê. Trở về quê hương khi đã được chứng nhận “liệt sỹ”, cả gia đình, làm xóm không ai có thể ngờ nên ngày hội ngộ là ngày của tiếng cười và nước mắt hạnh phúc.
 
Rời khỏi quân ngũ, ông được phân công về giảng dạy gần quê nhà tại Trường THPT Anh Sơn 1 thuộc huyện Anh Sơn. Lúc về hưu, ông vẫn không quên đồng đội từng đồng cam cộng khổ với mình trong chốn lao tù nên cùng đồng đội lập Hội Những người chiến sỹ cách mạng bị bắt, tù đày huyện Anh Sơn. Với cương vị là Chủ tịch Hội, ông đã đi khắp nơi trên mọi miền Tổ quốc thăm hỏi, động viên các gia đình thương binh, liệt sỹ và kết nối nghĩa tình đồng đội. Chính vì vậy, Ban liên lạc cựu chiến sỹ cách mạng bị giam giữ ở nhà tù Cần Thơ sau Hiệp định Pari được thành lập, kết nối tình đồng chí, đồng đội sau bao năm xa cách. 
 
Đi qua gần hết đời người với bao thăng trầm của cuộc sống, thế mà người tù năm nào vẫn trọn tình với nước, trọn một lời thề với đồng chí, đồng đội. Chia tay, chúng tôi vẫn còn bịn rịn bởi những câu thơ chứa chan tình cảm mà ông đã đọc: 
 
Bảy mươi sáu trái tim
Từ nhà lao Phú Quốc, Côn Đảo
Các anh đã giương cao cờ cách mạng soi sáng lòng tôi
Dẫu có máu chảy đầu rơi
Vẫn ngẩng cao đầu đi lên phía trước.

Hùng Khuyên

Ban Biên tập

In
Chia sẻ Facebook

Các tin khác