02:06, 21/06/2013

“Xin đừng gọi Anh là liệt sỹ vô danh”
 
Tuổi Kỷ Sửu, sinh ra trong thời kỳ đói khổ cơ hàn tại làng Vọng, xã Quỳnh Ngọc, huyện Quỳnh Lưu. Từ nhỏ, nhà báo - nhà thơ Văn Hiền đã nếm trải, chứng kiến cảnh sống thiếu thốn trăm bề từ cái ăn đến cái mặc. Những năm chống Pháp, chống Mỹ đến tận ngày hôm nay, ông vẫn không thể quên được ký ức tuổi thơ khó nhọc của mình.
 
Để rồi sau này lớn lên, tốt nghiệp Đại học Giao thông Vận tải, cùng với đội ngũ cán bộ, công nhân đi khắp các ngả đường, bến phà như: Cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa), cầu Lai Vu (Hải Dương), cầu Bùng, cầu Cấm, phà Bến Thủy (Nghệ An), phà Long Đại (Quảng Bình)… Và, chính những miền đất lửa ấy, tự lúc nào, ông đã bén duyên với nghề báo qua những bài viết về không khí hăng say lao động trên các trọng điểm giao thông ác liệt.
 
Nhà báo, nhà thơ Văn Hiền bên tấm bia khắc bài thơ “Xin đừng gọi Anh là liệt sỹ vô danh” tại Nghĩa trang liệt sỹ hữu nghị Việt - Lào
 
Từ ngã rẽ cuộc đời, Văn Hiền về Báo Lao động rồi công hiến, công tác cho Báo Nghệ An suốt 40 năm. Là phóng viên chiến trường, Văn Hiền đã trải qua không ít trận địa khói lửa, chứng kiến không ít sự hy sinh, mất mát của người lính và nhân dân thời kỳ ấy. Bố ông, Trần Văn Ngoạn vốn là chiến sỹ Điện Biên Phủ và sỹ quan công binh thời kỳ chống Mỹ, là liệt sỹ hy sinh năm 1967. Là con trai cả của 5 đứa con mồ côi bố, ngoài phần việc của mình, Văn Hiền lại phải cùng mẹ lo toan, gánh vác trọng trách gia đình, nuôi các em ăn học nên người. Mãi sau này, khi đất nước hòa bình, sau bao năm mòn mỏi, gia đình mới tìm được hài cốt liệt sỹ Trần Văn Ngoạn.
 
Cũng là người trong cuộc, Văn Hiền hiểu rõ hơn ai hết sự hy sinh lớn lao của những người đã không tiếc máu xương vì đất nước, vì dân tộc. Đau đáu trước nỗi đau của thân nhân liệt sỹ, xót xa trước hàng chục vạn liệt sỹ ngã xuống mà không tìm được hài cốt, Văn Hiền lại tự nhủ mình phải làm cái gì đó để bù đắp lại những nghĩa cử cao đẹp ấy. Bao năm công tác, không ít nhân vật là thân nhân liệt sỹ được Văn Hiền tìm đến, gặp gỡ và chia sẻ.
 
Ngày hòa bình, thịt xương các anh đã hóa vào đất mẹ. Những nghĩa trang liệt sỹ với hàng chục vạn ngôi mộ chỉ còn tấm bia ghi dòng chữ Liệt sỹ vô danh đã làm nhà báo Văn Hiền đau xót, day dứt. Một ngày tháng 7 năm 1993, dưới cái nắng chói chang gió Lào giữa Nghĩa trang liệt sỹ hữu nghị Việt - Lào, Văn Hiền đã rưng rưng viết nên bài thơ: “Xin đừng gọi Anh là liệt sỹ vô danh”. Như một nén nhang lòng, cao hơn là sự cúi lạy “nhân tình thế thái” và cả sự vô cảm, xin đừng gọi các Anh hùng liệt sỹ là vô danh.
 
Các anh có tên như bao con người khác, sao lại gọi là vô danh? Tên làng, tên đất còn theo các anh vào chiến trận. Rồi ân nghĩa, hạt lúa, củ khoai nuôi anh khôn lớn. Cha mẹ sinh ra các anh, các chị còn chọn tuổi, chọn mùa để đặt tên, sao có thể là vô danh được. Bài thơ đã được công bố trên nhiều tờ báo lớn, dựng thành phim tài liệu, xuất bản sách, phổ nhạc rồi in đĩa DVD phát hành, lập quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”… làm lay động hàng triệu trái tim.
 
“Tổ quốc không mất tên Anh/ Chỉ lặng thầm nhận về mình nỗi đau xanh cùng năm tháng”. Bài thơ sau đó đã làm thay đổi tên gọi trên 70 vạn tấm bia khắp các nghĩa trang liệt sỹ trong cả nước. Đến năm 2010, bài thơ “Xin đừng gọi Anh là liệt sỹ vô danh” đã được Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Sở Lao động TB&XH Nghệ An chỉ đạo khắc trên bia đá Garanit đặt trang trọng ở Nghĩa trang liệt sỹ hữu nghị Việt - Lào tại huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.
 
Giám đốc Trung tâm Bảo trợ Lao động xã hội huyện Đô Lương Lê Trung Thực cũng vận động quyên góp để khắc bài thơ trên đá tại Nghĩa trang liệt sỹ ở địa phương này. Bài thơ đã thúc dục những CCB, thân nhân liệt sỹ tạm gác ruộng nương lên đường đi tìm hài cốt của đồng đội, người thân của mình.
 
Bây giờ, cứ mỗi độ đến dịp “uống nước nhớ nguồn”, giữa muôn vàn nghĩa cử tri ân các gia đình thương binh, liệt sỹ, người ta lại nhắc đến Văn Hiền và bài thơ: “Xin đừng gọi Anh là liệt sỹ vô danh”.
 
Khoảnh khắc và mãi mãi!
 
Nguyên là Phó Tổng Biên tập Báo Nghệ An, nay là Trưởng Đại diện Tạp chí Người làm báo (Hội Nhà báo Việt Nam) khu vực Bắc Trung bộ, nhà báo, nhà thơ Văn Hiền dường như không lúc nào cho phép mình ngừng nghỉ hành trình đi tìm liệt sỹ. Cuộc đời trải qua chiến tranh nên Văn Hiền lại càng hiểu rõ hơn sự hy sinh của đồng nghiệp, đồng đội của mình khắp các chiến trường.
 
Những nhà báo, những tên tuổi đã đi cùng ông theo suốt chiều dài năm tháng. Mỗi người một quê, mỗi người một đơn vị nhưng với Văn Hiền, trước khi hy sinh, các anh, các chị đều chung một chí hướng là sống, chiến đấu vì Tổ quốc thân yêu của mình. Có người quê tận miệt vườn Cửu Long Giang, có anh quê tận Thái Nguyên - “Thủ đô gió ngàn”.
 
Văn Hiền giao lưu, tặng sách “Khoảnh khắc và mãi mãi” với đoàn sinh viên Đại học Michigan (Hoa Kỳ)
Họ là lớp lớp những chiến sỹ - nhà báo tuổi còn rất trẻ đã không ngại gian khổ, hy sinh, vào mặt trận ác liệt đánh giặc bằng những bài viết nóng hổi về nhân chứng, sự kiện anh hùng được gửi từ mặt trận về Tòa soạn. Từng kề vai, sát cánh bên họ, Văn Hiền hiểu rõ sự hy sinh của những nhà báo - liệt sỹ.
 
Sau này, khi đất nước yên bình, Văn Hiền lại lần dở, chắp nối những tư liệu về các đồng nghiệp của mình hy sinh để tìm lại gia đình, người thân, quê quán đã từng nuôi các anh, các chị khôn lớn. Những nhà báo - liệt sỹ như: Nông Văn Tư (Thái Nguyên), anh em nhà báo Bùi Văn Thưởng và Bùi Văn Tấn quê tận Cai Lậy (Tiền Giang) thuộc đồng bằng sông Cửu Long cho đến Phạm Thị Ngọc Huệ ở Kim Sơn (Ninh Bình), Nguyễn Thị Thanh Xuân (Quảng Bình)… đã ăn sâu vào tiềm thức của Văn Hiền.
 
Qua năm tháng, ông chắt chiu thời gian, công sức để vào tận những nơi các anh, các chị hy sinh. Có khi vào tận quê hương những đồng nghiệp của mình đã hóa thân vào đất đai xứ sở để hiểu thêm về hoàn cảnh cũng như người thân ai còn, ai mất. Ông bảo, có những bài viết về đồng đội mình có khi phải mất hàng chục năm gom nhặt tư liệu mới cầm bút viết. Với ông và như lời ông nói với lớp nhà báo trẻ chúng tôi, “viết về liệt sỹ không thể hời hợt được”.
 
Mình may mắn có được cuộc sống như hôm nay là có sự hy sinh của đồng đội, là nhờ máu xương của các anh đã đổ xuống nên không thể vô cảm trước hiện thực đang bị thời gian và sự lãnh cảm khỏa lấp! Cũng như trên mỗi trang viết của ông, Văn Hiền luôn “cân đo, đong đếm” từng câu chữ để làm sao khắc họa hết được phẩm chất, hành động anh hùng của từng nhân vật.
 
Mỗi bài viết của ông về từng chân dung nhà báo - liệt sỹ là mỗi cách thể hiện bút pháp sinh động, chân thực của mình. Hầu hết các tác phẩm viết về tấm gương nhà báo, liệt sỹ hy sinh, người đọc luôn nhận được sự truyền cảm, tính nhân văn và toát lên từ cái tâm, cái tầm của tác giả.
 
Trong hành trình đi - tìm - gặp - viết về nhà báo, liệt sỹ mấy chục năm qua, Văn Hiền luôn chú ý đến từng chi tiết tưởng chừng khuất lấp trong cuộc sống, nhưng khi khai thác sâu, nó lại nói lên tất cả. Làm báo, phải quan sát, chiêm nghiệm. Văn Hiền đã viết lên các tác phẩm bằng cái tâm của mình. Năm nay, tuổi ông đã ngoài lục tuần.
 
Tâm nguyện cho ra đời cuốn sách “Khoảnh khắc và mãi mãi” tuyển tập 20 chân dung nhà báo, liệt sỹ đã được Hội Nhà văn xuất bản, với ông như một nén nhang lòng tưởng niệm các đồng nghiệp của mình đã hy sinh. Ông nói, còn rất nhiều nhà báo đã hy sinh ở khắp các chiến trường vẫn chưa có đủ điều kiện để tìm, để viết. Văn Hiền chỉ mong mình có sức khỏe để tiếp tục hành trình tìm lại quê quán, nơi hy sinh của đồng nghiệp để viết tiếp về họ.
 
Bây giờ, công tác tại cơ quan lý luận, nghiệp vụ của Hội Nhà báo Việt Nam, bằng kinh nghiệm của mình, Văn Hiền luôn nhắc nhở, “truyền lửa” cho thế hệ trẻ chúng tôi về cái tâm và cái đức để hướng tới cái tầm của người làm báo trong xã hội đầy rẫy cám dỗ, hiểm nguy hiện nay. Cũng như trong mỗi bài viết của mình, từ bài thơ “Xin đừng gọi Anh là liệt sỹ vô danh” đến cuốn sách “Khoảnh khắc và mãi mãi”, chúng tôi nhận ra một Văn Hiền, nhà báo, nhà thơ không cho phép mình nguội tắt “lửa nghề”!

Trần Ngọc Thái

Ban Biên tập

In
Chia sẻ Facebook

Các tin khác