Tiêu đề chính của bài viết
Đây là đoạn mô tả ngắn hoặc lời dẫn mở đầu cho nội dung.
08:10, 07/10/2018
Sáng nay (7-10), Lễ viếng nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười được cử hành tới 7h30. Đến 9h, cử hành Lễ truy điệu. Lễ an táng bắt đầu từ 13h cùng ngày tại quê nhà (Khu Ma Vang, thôn 1, Đông Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội).
7h50: Công tác chuẩn bị cho lễ truy điệu và lễ an táng nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười được thực hiện chu đáo.
![]() |
6h50: Linh xa cùng đội nghi lễ đang duyệt đội hình để chuẩn bị cho Lễ truy điệu và đưa tiễn linh cữu nguyên Tổng Bí thư về quê nhà.
![]() |
![]() |
6h30: Tại Nhà tang lễ số 5 Trần Thánh Tông , Hà Nội, các công tác an ninh, tiếp đón đoàn đại biểu, nhân dân đến viếng đã hoàn tất. Các tuyến đường nơi linh cữu sẽ đi qua trước khi đưa về quê nhà nguyên Tổng Bí thư cũng được hạn chế phương tiện.
![]() |
| Lực lượng Công an làm nhiệm vụ tại cổng nhà tang lễ Quốc gia |
![]() |
![]() |
Sau lễ viếng được tổ chức cả ngày hôm qua (6-10), 9h sáng nay (7-10), Lễ truy điệu nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười được cử hành tại Nhà Tang lễ quốc gia số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Cùng thời gian này, tại Hội trường Thống Nhất, TP.HCM, Lễ truy điệu nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười cũng được tổ chức.
Sau Lễ truy điệu, từ 13h chiều nay, Lễ an táng nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười sẽ diễn ra tại quê nhà, khu Ma Vang, thôn 1, xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
![]() |
Lộ trình đoàn xe tang rước linh cữu nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười
Về lộ trình bảo vệ dẫn đoàn xe tang rước linh cữu nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đi qua trên các tuyến đường vào sáng ngày 7-10, Trung tá Nguyễn Văn Hải, Đội trưởng Đội Tuần tra Dẫn đoàn (Phòng CSGT Công an TP Hà Nội) cho biết: "Các phương tiện đã sẵn sàng, đồng thời hạn chế các loại phương tiện hoạt động trên các tuyến đường đoàn xe tang đi qua".
Theo Trung tá Nguyễn Văn Hải, 9h sáng ngày mai (7-10), đoàn xe tang sẽ đi từ Nhà tang lễ quốc gia số 5 Trần Thánh Tông ra đường Phạm Đình Hổ về nhà riêng nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười. Sau đó, đoàn xe tang rước linh cữu đi qua các tuyến phố Lò Đúc, Phan Chu Trinh, Tràng Tiền, Hàng Khay, Tràng Thi, Điện Biên Phủ, Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Độc Lập, Chu Văn An, Nguyễn Thái Học, Lê Duẩn, Giải Phóng, Ngọc Hồi, Ngũ Hiệp, Đông Mỹ, Liên Ninh (huyện Thanh Trì).
“Để tuân thủ chỉ dẫn nhường đường cho đoàn xe ưu tiên, người điều khiển phương tiện phải tuyệt đối chấp hành sự chỉ dẫn của lực lượng chức năng làm nhiệm vụ trên đường để đoàn xe tang lễ đi qua. Cũng là tỏ lòng thành kính với nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười”- Trung tá Nguyễn Văn Hải nói.
| TÓM TẮT TIỂU SỬ ĐỒNG CHÍ ĐỖ MƯỜI Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; nguyên Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ----- Đồng chí Đỗ Mười (tên khai sinh là Nguyễn Duy Cống), sinh ngày 2-2-1917; quê quán: Xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Thường trú tại số nhà 11, phố Phạm Đình Hổ, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Tham gia hoạt động cách mạng năm 1936; vào Đảng tháng 6-1939. Năm 1936, đồng chí tham gia phong trào Mặt trận Bình dân. Năm 1937, đồng chí tham gia Tổ chức Ái hữu thợ mỏ Hòn Gai. Năm 1938, đồng chí về quê hoạt động, vào Công hội, vận động phong trào ủng hộ Liên Xô; tháng 6-1939, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Năm 1941, đồng chí bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù, giam ở Nhà tù Hà Đông và Nhà tù Hoả Lò, Hà Nội. Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, đồng chí vượt ngục Hoả Lò, bắt liên lạc với Đảng và tiếp tục hoạt động, được phân công về tham gia Ban khởi nghĩa Tỉnh uỷ Hà Đông, phụ trách phong trào cách mạng huyện Ứng Hoà và Mỹ Đức, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Hà Đông. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí làm Bí thư Tỉnh uỷ Hà Đông. Đầu năm 1946, đồng chí làm Bí thư Tỉnh uỷ Hà Nam. Cuối năm 1946, làm Bí thư Tỉnh uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến tỉnh Nam Định. Năm 1947 - 1949, đồng chí làm Khu uỷ viên Khu III, Bí thư Tỉnh uỷ Ninh Bình, Bí thư Tỉnh uỷ Hoà Bình. Năm 1950, đồng chí làm Phó Bí thư Liên Khu uỷ, kiêm Phó Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Liên khu III, Chính uỷ kiêm Tư lệnh Liên khu III. Năm 1951 - 1954, đồng chí làm Bí thư Khu uỷ khu Tả Ngạn Sông Hồng, kiêm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính và Chính uỷ Quân khu Tả Ngạn Sông Hồng. Năm 1955, đồng chí chỉ đạo tiếp quản Khu 300 ngày, Bí thư Thành uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban Quân chính thành phố Hải Phòng. Tháng 3-1955, đồng chí được bầu bổ sung Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1956, đồng chí làm Thứ trưởng Bộ Thương nghiệp. Năm 1958, đồng chí làm Bộ trưởng Bộ Nội thương. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960), đồng chí được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng; giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội thương. Năm 1967 - 1968, đồng chí làm Chủ nhiệm Uỷ ban Vật giá Nhà nước, Trưởng phái đoàn Thanh tra Chính phủ. Năm 1969 - 1973, đồng chí làm Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước. Năm 1973, đồng chí làm Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Phó Chủ tịch Hội đồng chi viện tiền tuyến Trung ương và chống phong toả Cảng Hải Phòng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12-1976), đồng chí được bầu lại làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị, giữ chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ, phụ trách các khối: Xây dựng cơ bản, Công nghiệp, Vật tư, Cải tạo công thương nghiệp và phân phối lưu thông. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (tháng 3-1982), đồng chí tiếp tục được bầu lại làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị, giữ chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ, phụ trách các khối: Xây dựng cơ bản, Công nghiệp, Vật tư. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12-1986), đồng chí tiếp tục được bầu lại làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị, được phân công làm Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng. Tháng 6-1988, đồng chí được Quốc hội bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ). Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6-1991), đồng chí tiếp tục được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị và giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Bí thư Quân uỷ Trung ương. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 6-1996), đồng chí tiếp tục được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị và giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Bí thư Quân uỷ Trung ương. Tháng 12-1997, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư khoá VIII, đồng chí xin thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng, thôi giữ chức Tổng Bí thư; được Ban Chấp hành Trung ương Đảng suy tôn làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng đến năm 2000. Đồng chí là Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II; Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khoá III, IV, V, VI, VII, VIII; Uỷ viên Bộ Chính trị dự khuyết khoá IV; Uỷ viên Bộ Chính trị các khoá V, VI, VII, VIII; Thường trực Ban Bí thư khoá VI; Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ tháng 6-1988 đến tháng 6-1991); Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (từ tháng 6-1991 đến tháng 12-1997). Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng (từ năm 1997 đến năm 2000). Đại biểu Quốc hội các khoá II, IV, V, VI, VII, VIII và IX. Do có nhiều công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng; Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế. |
Các tin khác
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tuần từ 1-5/10
06/10/2018
Lễ Quốc tang Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười
06/10/2018







