Tiêu đề chính của bài viết
Đây là đoạn mô tả ngắn hoặc lời dẫn mở đầu cho nội dung.
02:09, 23/09/2013
Cuộc sống người trồng chè đã có nhiều khởi sắc, nhưng còn đó không ít người vẫn phải chịu kiếp “sống mòn”...
Kỳ 1: Nơi cây chè chiếm thế độc tôn
Xí nghiệp Chè Thanh Mai (trước đây là Nông trường Chè Thanh Mai) những năm 70 của thế kỷ trước là một mục trường. Đây là nơi bộ đội xuất ngũ, thanh niên xung phong, học sinh vừa học vừa làm ở khắp các huyện trong tỉnh và cả tỉnh Hà Tĩnh về đây khai khẩn để sản xuất phục vụ tiền tuyến. Khi ấy, mục trường trải dài từ xã Thanh Tùng xuống tới vùng Trại Gan (thuộc xã Thanh Lâm) của huyện Thanh Chương với diện tích hàng nghìn ha.
Từ rừng cây dại, dưới bàn tay của những con người hăng say lao động, vùng đất này biến thành những cánh đồng cỏ thẳng cánh cò bay. Đàn bò sữa cũng được đưa vào chăn thả. Những đồi cam trĩu quả, vàng óng cũng mọc lên, trải dài tít tắp tận chân trời. Ngày ấy, trong ký ức những người từng gắn bó với mảnh đất này, mỗi sáng thức dậy, lên đồi làm việc là một ngày hội. Họ hồ hởi làm việc để quên đi cái khó khăn của thời chiến. Cái thời ấy, dù ăn chưa no, mặc chưa đẹp, chưa đủ nhưng sao vui đến thế?
Dưới thời bao cấp, cái khổ đã đành là một “đặc sản” nhưng sự vô tư cống hiến để tiền tuyến bớt phần thiếu thốn của những con người nơi hậu phương cũng cần được vinh danh. Không khí thi đua sản xuất ngày ấy được những người trong cuộc ví như khi đọc tác phẩm “Mùa lạc” của Nguyễn Khải: “Có khi, nó còn vui hơn, nhộn nhịp hơn, náo nhiệt hơn cả “Mùa lạc” ấy chứ!” - Ông Trần Quốc Khánh, Giám đốc Xí nghiệp Chè Thanh Mai tâm sự.
Các công nhân đang thu hái chè
Rồi chiến tranh cũng lùi xa, những người trong cuộc biết rằng, nông trường sẽ phải thay đổi. Và nó thay đổi thật, nhưng đến chóng vánh trong sự ngỡ ngàng. Chẳng hiểu vì lý do gì, những đồng cỏ xanh tươi dần bị thu hẹp, đàn bò sữa, vườn cam cũng chỉ còn lại trong dĩ vãng. Và chẳng bao lâu, cây chè chiếm thế độc tôn trong số các cây, con được lựa chọn cho vùng đất này. Sau này, nhiều người mới hiểu, mô hình cũ không còn phù hợp, khi chiến tranh lùi xa, nông trường quay sang sản xuất những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu cho đời sống hàng ngày.
Có lẽ lúc ấy, sữa bò là thứ xa xỉ, xa lạ với người nông dân Việt Nam. “Trong số những gì đã làm nên nông trường này từ thuở ban sơ đều không thể trụ lại được. Không phải vì chất đất ở đây không phù hợp mà vì, cùng với thời gian, cơ chế đã thay đổi. Nông trường dù vẫn duy trì cơ chế sản xuất cũ nhưng cây cam, bò sữa được thay thế bằng sản phẩm thiết yếu nhất phục vụ đời sống con người. Cái duy nhất còn tồn tại ở vùng đất này sau bao thăng trầm của thời gian là cây chè. Chúng tôi vẫn thầm cảm ơn nó vì đây là cây xóa đói giảm nghèo cho đội viên và người dân trong vùng” - Ông Trần Quốc Khánh trải lòng.
Chuyển sang trồng chè, vẫn giữ cơ chế bao cấp nhưng nó chỉ duy trì được đến đầu những năm 90 của thế kỷ trước. Ngân sách Nhà nước cấp cho việc trồng chè bị cắt dần rồi cắt hẳn, cán bộ, công nhân viên nông trường buộc phải tự bươn chải sau nhiều năm tồn tại dưới cơ chế cũ. Diện tích do nông trường quản lý cũng giảm dần, một số được giao lại cho chính quyền địa phương quản lý, một phần được cấp làm đất thổ cư cho các đội viện.
Từ năm 1990, cán bộ, công nhân viên hưởng lợi theo sản phẩm làm ra, chế độ khoán cũng bắt đầu từ đó. Gia đình được giao khoán nhiều nhất khoảng 2,5 ha, hộ ít nhất cũng khoảng 0,3 ha. “Nhưng thuở ấy, để các đội viên nhận đất sản xuất không dễ. Gia đình nào cũng sợ nhận nhiều sẽ quản lý không nổi, sản xuất thua kém thì biết lấy gì mà ăn? Nhưng rồi, thực tế đã chứng minh, ông trời không để ai thiệt bao giờ, những hộ gia đình nhận khoán nhiều, chăm chỉ sản xuất thì nay cuộc sống dư giả. Đến nay, nhiều hộ gia đình mới ngộ ra chân lý ấy thì đã muộn, đất đai đã được giao hết...” - Ông Khánh chia sẻ.
Trước sự phát triển nhanh chóng của việc sản xuất chè của vùng đất này. Nông trường Chè Thanh Mai sau đó được chia tách thành 3 xí nghiệp gồm Xí nghiệp Chè Hạnh Lâm, Xí nghiệp Chè Ngọc Lâm và Xí nghiệp Chè Thanh Mai. Sản xuất chè phát triển nhanh đến nỗi, 3 xí nghiệp chế biến không xuể, chè búp tươi không ế ẩm nhưng rớt giá thê thảm. Bắt đầu đã xuất hiện những hộ cá nhân mạnh dạn đầu tư xưởng chế biến chè mini.
Nơi mà ngày xưa chỉ có 3 xí nghiệp chè hoạt động thì nay đã có hàng chục xưởng chế biến chè mi ni của người dân mở ra, hoạt động thu mua, chế biến nở rộ với những ông chủ thực sự có năng lực trong lĩnh vực này. Vấn đề đảm bảo được nguồn nguyên liệu vì thế ngày càng quan trọng. Tất nhiên, người trồng chè hưởng lợi nhất trong tình hình ấy, họ bán với giá cạnh tranh, không bị cảnh tư thương ép giá cũng không chịu bất cứ một ràng buộc nào với các xí nghiệp chè.
Đây chính là một trong những nguyên nhân khiến Xí nghiệp Chè Thanh Mai hôm nay “ôm hận” bởi nguyên liệu đầu vào thiếu trầm trọng. Khi cây chè đã có trên 10 năm khai thác, sản lượng chè búp ngày càng tăng, máy móc được đưa vào quá trình thu hái khiến công lao động giảm, cuộc sống người dân ngày càng khởi sắc. Nhiều cán bộ, công nhân viên Nông trường Chè Thanh Mai nghỉ hưu, nay được xí nghiệp cấp đất sản xuất, ngoài lương hưu còn có nguồn thu lớn từ cây chè.
Một số đội viên xí nghiệp nhẩm tính, mỗi gia đình có khoảng 5 - 6 miệng ăn, nếu có trên dưới 1 ha chè thì cuộc sống “rủng rỉnh”. Bình quân mỗi ha chè cho thu hoạch 15 - 16 tấn chè búp. Với giá khoảng 5.000 - 6.000 đồng/kg, người trồng chè có thể thu về trên dưới 60 triệu đồng/ha/năm.
Cây chè thực sự đã làm thay đổi hẳn bộ mặt nông thôn vùng miền núi này. Ông Hà Quang Nam - Phó Chủ tịch UBND xã Thanh Mai cho biết: “Xã có 32% số hộ trồng chè. Không ít trong số này có đời sống khấm khá, hộ trồng chè nghèo và cận nghèo là rất hiếm. Tỷ lệ hộ nghèo toàn xã hiện nay đang cao, nhưng nhờ cây chè nên tỷ lệ này đang giảm xuống nhanh chóng, từ 43% (năm 2012) xuống còn 39% (năm 2013). Hiện nay, riêng địa bàn xã Thanh Mai đã có 10 xưởng chế biến chè mini đang hoạt động, tạo thêm công ăn việc làm cho hàng trăm lao động. Từ cây chè, chúng tôi hy vọng, kinh tế địa phương sẽ nhanh chóng có bước đột phá trong thời gian sớm nhất”.
Văn Dũng
